Gác dì năm

Hà Nội! Dưới mắt tôi, chưa bao giờ Hà Nội trầm buồn tê tái bằng cái năm từ khắp nẻo của ô thiên hạ lũ lượt hồi cư sau 36 tháng “chạy loạn” cũng là 36 tháng “đi kháng chiến”. Ôi! “đi…” với “chạy…”, đằng nào chả thế; hơi đâu bắt bẻ chuyện danh từ.

Giữa mùa dao động nửa cười nửa khóc ấy tôi đã gặp lại Dì Năm. Cũng chính là Chu Ngũ Nương, người mà giọng ca sắc ngang khóe mắt, từng giây và chịu bao nhiêu nỗi dứt ruột, nhưng lại có tính tri kỷ với đôi ba kẻ mài bút hay mài gươm.


Cùng ôn chuyện xưa…Mới bẩy lần xuân phai mà tưởng như tất cả - người và việc – đều rơi rụng vào một dĩ vãng xa vời…

-   Lâu ngày bỏ bê xênh phách, tôi quên gần hết những câu hát xưa rồi anh ạ! mà có nhớ lõm bõm được ít câu thì hát lên cũng thấy nó lạc loài sao ấy; chẳng đâu vào đâu!...Hay là anh đặt giúp cho vài bài?...Nhé, Hoàng nhé!...
Từ phen sóng nước gieo neo,

Mấy hoa tan tác mấy bèo nổi trôi

Ba chữ “hoa tan tác”, tôi bèn hạ bút mà ngập ngừng; chỉ sợ Ngũ Nương phật ý. Vì trong truyện Kiều chẳng có câu:
“Xưa sao phong gấm rủ là;

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”?

Nhưng, suy đi ngẫm lại thì…mình chẳng đã tự ví với “bèo nổi trôi” đó ư?...Hẳn cũng đáng được miễn trách!

Thế là tôi để mặc cho bút lia rên giấy, hoàn tất 4 câu mưỡu đầu:
Thú xưa còn bấy nhiêu thôi:

Hồn thi nhân với giọng người danh ca.

Ngũ Nương nhìn tôi như biểu đồng tình! Phải, mới ngót 7 năm mà trước mắt bao nhiêu là trời xanh mây trắng. Cuộc đời thay sắc điệu; cái thú làm bài hát, cái thú nghe hát và cả cái thú hát cho người ta nghe đều đã trở thành “xưa”. Lúc này, thi nhân còn đâu phong độ công tử vương tôn; mà danh ca thì…cũng xế chiều xuân sắc!...Tôi chỉ còn lại bất quá một chút “hồn”, và Ngũ Nương của tôi may ra còn chút “giọng”; ôi giọng hát từng sắc bén mê người!...

Qua một tuần trà, Ngũ Nương trầm ngâm nhìn xuống lòng chén. Gian gác bỗng dưng có vẻ huyền hoặc như ai vừa nhấc bổng nó đặt vào một không gian thời gian nào trong Dị sử Đông Phương. Chiếc hỏa lò vẫn đày than hồng và ấm nước đặt trên đó vẫn tiếp réo sôi, nhưng làn khói đậm đặc vừa nâng chiếc nấp ấm cho kênh lên để tìm đường giải thoát đã tự pha loãng dần màu xanh, và tan rộng, tỏa rộng mãi…Gian gác sao mà hoang vắng; trời nước đâu đây tâm sự bồng bềnh!


Tiếng nói của Ngũ Nương, hay chuông chùa Hàn San phá vỡ khung cảnh Đường thi lẻn vào thính giác tôi đó?
-   Anh còn nhớ câu “yên nhị, trà tam…” không nhỉ? Chúng ta chỉ có 2 người, uống trà khó vui được phải chăng?
Tôi ngơ ngác như trong cơn mê hoảng triền miên, vừa mới kịp hoàn hồn đã bị kéo trở vào dìm sâu xuống tận đáy ảo giác…

“Yên nhị trà tam…”; câu nói này nghe quen quá! Ai? Một gã bạn thân nào…? Cớ gì Ngũ Nương lại bỗng dưng thốt ra? Thần giao cách cảm ư hỡi anh chàng tốt phúc?

Và phút nhập đồng bất chợt, tôi đã kê mành hoa tiên lên mặt trống, viết một hơi trọn vẹn khổ đầu:
Mặt nhìn mặt còn ngờ trong giấc mộng
Phải rừng đây “ vang bóng một thời” xưa?
Gác Dì Năm thủa ấy họp bình thơ

Người trong cuộc bây giờ đâu nhạn cá!

Cầm mảnh giấy trên tay, Ngũ Nương chưa đọc vội, mà khoan thai gọi cô cháu nhỏ, ra hiệu cho biết tuần trà đã thưởng xong, và đến lúc triệt bỏ chiếc hỏa lò bên trong than chỉ còn cháy thoi thóp…


- Anh ạ, “Vang bong một thời”…nhắc đến nữa làm chi vậy?

Nhìn theo chiếc lò than vạc dần, tôi thấm thía câu hỏi của Ngũ Nương, hỏi đấy mà thật ra là van vỉ, oán trách…

Ôi! Trước đây 7, 8 năm, danh ca họ Chu đã gá nghĩa “vợ chồng hờ” với Thanh Thủy Nhất Lang, người viết tập tùy bút nổi tiếng kia, và tôi lúc ấy – hỗn danh Hoàng Say – đang là người bạn ít tuổi thân thiết của gã. Mấy phen tôi phải dìu gã lên xe – một bộ mặt lầm lì đáng sợ, một thân xác cồng kềnh nặng chịch những bi phẫn, một tâm hồn nổi loạn vì cô độc chán chường – để rồi xe cũng như hai kẻ ngồi xe ngất ngưởng say khói say men, trực chỉ miệt Cống Trắng. Biết sao hơn! An chồng phóng đãng thật, nhưng phải đi về xóm Khâm Thiên mà trả cho chị vợ u sầu chứ! Không lẽ trả cho dì Tuyết, dì Hồng…?

Tuy vậy Nhất Lang – khi phùng trường tác hý thường được gọi là Nguyễn – lại khéo tổ chức những buổi bình thơ. Trên gác dì Năm, dĩ nhiên rồi! Đếm sao xiết lũ người trong cuộc! Riêng chữ người trong cuộc đặt ở câu hát của tôi thì ám chỉ đặc biệt có hai thôi. Một là Nguyễn; và một nữa là người tôi đang vấn vương, người đẹp mang tên loài hoa quân tử. Gác di Năm thủa ấy, giờ vẫn nguyên vẹn, nhưng trong số bốn người đồng điệu chỉ còn trơ lại nhữ chủ nhân và tôi, cả hai cùng lẻ cặp. Ngay trong lòng Cố đô!...
-   Hỡi ơi! Bạch Liên thư thư đã “về với đêm dài”. Còn Nguyễn thì đang thực hiện những chuyến “giang hồ vặt” giữa khoảng núi rừng cát bụi – Tuyên Quang? Bắc Cạn? – ai biết được gió có lên hay không đây!

Và khổ giữa của bài hát đã viết ra bằng nước mắt:


Giai nhân hoàn bội quy trường dạ
Danh sĩ phong trần tẩu mỹ nhiêm.
Trải tang thương cùng đau đớn nỗi niềm
Nhịp xênh phách lại càng thêm gợi nhớ.
Chữ “hoàn bội”, đành rằng mượn của Đỗ Thiếu Lăng:
Hoạn đồ tỉnh thức xuân phong diện

Hoàn bội không quy dạ nguyệt hồn

Nhưng Chiêu quân đời Hán, trong thơ họ Đỗ, thì “hoàn bội không quy…”; nghĩa là; vòng xuyến ngẩn ngơ theo hồn về lúc đêm trăng. Còn Bạch Liên của tôi thì “hoàn bội quy trường dạ”; nghĩa là: Vòng xuyến về với đêm dài. Về một cách cụ thể!...
Ngậm ngùi xiết bao! Khoảng 1948, Chợ Đại bị oanh tạc bằng phi cơ. Bạch Liên cũng là một trong số những nận nhân của cuộc chiến. Liên – tuổi không còn trẻ nữa những thói đỏm dáng vẫn y như thủa sen ngó đào tơ – đã đòi cho được vòng vàng xuyến ngọc đeo đầy tay, phấn son thật lộng lẫy yêu kiều…rồi mới chịu nhẵm mắt. Có phải ngẫu nhiên mà tôi hạ chữ “hoàn bội” đâu!


Cũng như chữ “mỹ nhiêm” ở câu kế. Anh bạn Nhất Lang họ Nguyễn có bộ ria mép khá lịch sự; các văn hữu thường gọi đùa là Mỹ nhiêm công, biệt danh của Quan Vũ đời Tam Quốc. Trong Tam Quốc Chí, hồi thứ 27 kể việc Quan Vũ đưa hai bà chị dâu đi tìm Lưu Bị đã được tóm tắt bằng 2 câu thơ: “Mỹ nhiêm công thiên lý tẩu đơn kỳ; Hán thọ hầu ngũ quan trảm lục tướng”. Ở trường hợp Nguyễn thì chỉ là “thiên lý tẩu phong trần”, nhưng gian nguy chắc cũng không kém.

Dầu sao. Tác giả Vang bóng một thời cũng chưa đến nỗi chỉ là “vang” với “bóng”. Con người bằng xương bằng thịt của gã còn nhiều phen gieo vạ cho tôi, cho dì Năm chứ chẳng không đâu!
“Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”
Ca dao đã tiên đoán chắc nịch

Chỉ Bạch Liên thư thư là “ra đi không về”…Cho nên khổ xếp đã viết được 2 câu, đến câu keo thì không thể danh cho Liên, gọi người thiên cổ bằng ngay những âm hưởng ma quái của y thủa sinh tiền; chẳng phải mượn đến chùm phương thảo!

Lệ trên tiệc những hơn người chan chứa
Xót cho nhau mang lấy chữ tài chi!
Đâu đây chợt vẳng tiếng Tỳ…

Ôi! Tiệc nào đây, nếu không là bữa tiệc trần gian với toàn những mùi cay vị đắng? Nguyễn có tài viết tùy bút, Liên có tài đờn ca, lại thêm sắc nghiêng nước. Đúng là:

“Sắt đành đòi một. Tài đành họa hai”


Lúc tại thế, Liên dạo đờn Tỳ có hồn biết bao! Lại có tình nữa! Còn nhớ như in ký ức buổi họp bình thơ hôm ấy trên gác dì Năm:

“Mơ xanh đắng vị thu già

Sắc vàng chen, ngón tay ngà gió mưa”.


Liên ngồi ôm đờn một nơi góc chiếu’ ngọn đèn dầu lung linh đã khiến cho mỗi âm đờn có hiệu lực một bàn tay Tạo hóa xếp đặt bao nhiêu nét phù du:

“Lòng hoa nghiêng dáng cầm trăng
Phím dây bừng thức cung Hằng áo xiêm.

Lắng tai càng vẩn nỗi niềm

Thoắt dồn mau, thoắt buông chìm tiếng tơ”…

Còn đang sống lại mấy câu lục bát khởi thảo từ buổi họp 7, 8 năm xưa, tôi bỗng giật mình nghe tiếng nói của dì Năm vang lên, nửa xót xa nửa hờn trách:


-   Sao lại “Gác…dì Năm”? chữ với nghĩa cái anh này mới hay chứ! Thời xưa đi thi là phạm tội khiếm trang đấy, biết không?...

Ngoài kia nắng chiều hôm đã “tác quái” trên thành Cống Trắng.

Mấy tháng sau khi tôi trao bài hát này cho Ngũ Nương thì danh ca họ Chu cũng bụi hồng rũ sạch, theo gót Bạch Liên. Còn lại tôi với Nguyễn, bên này bên kia sông Bến Hải giờ đây, đều không cùng một thế giới, một thời gian với hai người danh ca gác Cuồng Ngâm thuở nọ.

TRỌN VẸN BÀI HÁT NHƯ SAU
(Mưỡu)

Từ phen sóng nước gieo neo,
Mấy hoa tan tác mấy bèo nổi trôi
Thú xưa còn bấy nhiêu thôi:
Hồn thi nhân với giọng người danh ca.
(Khổ đầu)
Mặt nhìn mặt còn ngờ trong giấc mộng
Phải rừng đây “ vang bóng một thời” xưa?
Gác Dì Năm thủa ấy họp bình thơ
Người trong cuộc bây giờ đâu nhạn cá!
(Khổ giữa)
Giai nhân hoàn bội quy trường dạ
Danh sĩ phong trần tẩu mỹ nhiêm.
Trải tang thương cùng đau đớn nỗi niềm
Nhịp xênh phách lại càng thêm gợi nhớ.
(Khổ xếp)
Lệ trên tiệc những hơn người chan chứa
Xót cho nhau mang lấy chữ tài chi!

Đâu đây chợt vẳng tiếng Tỳ

Tác giả Vũ Hoàng Chương

(Tạp chí Văn học, Sài Gòn, 1971)

 

 

Video

Hình ảnh hoạt động