|
TRUNG TÂM VĂN HÓA CA TRÙ THĂNG LONG GIỚI THIỆU TÓM TẮT Ý NGHĨA CÁC THỂ CÁCH CỦA CA TRÙ TRONG CHƯƠNG TRÌNH BIỂU DIỄN

1.Thét nhạc
Thét nhạc được coi là làn điệu cổ nhất. Nó chứa đủ ngũ cung âm luật ca trù : Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao. Theo sách Việt Nam Ca trù biên khảo, làn điệu này có từ thời nhà Lê - thế kỷ thứ XV. Vào thời nhà Lê, khi trong cung tế lễ việc đầu tiên quan Thái thường cho nhạc công bày các đồ nhạc khí cùng hoà với tiếng hát của ca công gọi là Khúc thiết nhạc. Đời sau đọc chệch thành thét nhạc. Các triều đại vua chúa sau này khi tế lễ nơi đền miếu cũng đều hát thét nhạc. Thể hát này quan tâm nhất phần âm nhạc, mượn lời ca để dẫn nhạc nên khi hát nghe thật tuyệt diệu.
Tiếng dương tranh Đàn ai một tiếng dương tranh Chưng thủa ngọc ô, đàn não nùng chiều ai oán Xa đưa tiếng nhạc thiều tâu Vẳng nghe chuông gióng lâu lâu lại dừng
Bóng trăng thanh nguyệt dãi thềm lan Tiếc thay mặt ngọc thương ai Vậy là đêm đông trường Lá thu ngô đồng rụng Một lá thu bay, hơi sương lọt mày Ngồi nghe tiếng đàn Nguyệt dãi tường lầu, đồng vọng bóng trăng thâu Ghẹo lòng thiếu nữ Gửi bước đường trường Chày ai nện tương tư sầu.
Bài thơ với lời cổ từ đời hậu Lê, diễn tả tâm trạng của người thiếu nữ mỗi khi chiều về, nghe tiếng nhạc, tiếng chuông từ xa vẳng lại, đêm phủ xuống căn phòng trống vắng, càng da diết nhớ thương người mình yêu với nỗi tương tư, sầu muộn. 2. Múa hát dâng hương Ca trù là nghệ thuật tổng hợp. Khi xưa Ca trù có cả hát, múa và diễn các trò vui. Từ thế kỷ IX, X ở Việt Nam đã có những hoạt động nghệ thuật dân gian như nhảy, múa, ca hát. Ca trù là một trong những môn ca múa dân gian đó. Bắt đầu từ đời nhà Lý (1010) đến đời nhà Trần (1225), các bậc minh quân giỏi âm luật đã sáng tác múa hát cho ban nữ nhạc và nhạc công diễn trong cung. Tuy vậy, ca trù không chỉ phục vụ vui chơi, giải trí, khao thưởng mà còn phục vụ nghi lễ của con người trong đời sống như múa tạ ơn trời đất, và cầu thánh thần phù hộ. Thể cách ( bài hát múa) này dùng trong tế lễ dâng cúng thần linh.
Một nén hương thơm thấu chín lần Kính giời, kính đất, kính linh thần Chữ rằng nhất niệm thông tam giới Mừng vương muôn tuổi trị muôn dân
Nghi ngút hương trầm thấu cửu thiên Mây lồng năm thức, nguyệt lồng in Thành kính dâng nén hương thơm khói Rỡ rỡ vinh hoa ức vạn niên
Công minh chính trực vị chi thần Biến hoá vô cùng đức đại nhân Đại đức thanh cao tâm doanh ái Càn khôn khi tự tối linh thần
Xã dân hương khói trọn tiết tuần Tưởng nhớ thánh linh cách bụi trần Dâng nén hương thơm lòng thành kính Âm phù dương trợ, thịnh xã dân ./.
3. Bắc phản. Đây là thể hát mở đầu các cuộc hát chơi. Giọng hát mới đầu thấp sau cao dần đang từ giọng này chuyển sang giọng khác, hơi Nam chuyển sang hơi Bắc nên gọi là Bắc phản. Thể hát này chỉ có sáu câu thơ lục bát đặc trưng của Việt Nam.
Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng Ngàn xa đỉnh dụ nghi nga Khướu gù, vượn hót, mai đà khoe tươi Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thường thường các nghệ nhân trích lời trong tác phẩm Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn trích sau đây tả tâm trạng của Thuý Kiều vừa bén duyên với Kim Trọng và hai người đã trao lời thề ước, kết nghĩa trăm năm nhưng vào lúc đó chàng phải về quê thăm gia đình vậy nên đành tạm xa người yêu “tài sắc nghiêng nước nghiêng thành”. Nàng khắc khoải chờ mong không biết đến bao giờ mới được gặp lại người yêu dấu.
Sen tàn mai đã chiêm hoa Tình dài, ngày vắn, đông đà sang xuân Tìm đâu cho thấy cố nhân Lấy câu vận mệnh, xoay vần nhớ thương Chạnh mềm nhớ cảnh gia hương Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê
4.Mưỡu nói : Hồng Hồng , Tuyết Tuyết Hát nói là thể thơ mới thuần Việt. Hát nói thể hiện được mọi cung bậc tình cảm của con người hướng tới nhu cầu rất chính đáng là giải trí. Bài Hồng Hồng - Tuyết Tuyết lời của Tiến sỹ Dương Khuê (1836-1902). TS Dương Khuê người làng Vân Đình, tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội - là một ông quan thanh liêm rất giỏi và mê chuộng ca trù. Hồng Hồng - Tuyết Tuyết là bài hát nói đúng niêm luật 11 câu, đã rất nổi tiếng từ khi xuất hiện cho đến nay. Có thể người ta không thuộc hết cả bài nhưng không thể quên câu “…Mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi. Mười lăm năm thấm thoát có xa gì. Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.” . Có lẽ vì thấy bài hát nói hay nên có tác giả nào đó đã sáng tác thêm 4 câu mưỡu kép ( thơ lục bát) để tóm lược chủ đề của bài hát.
Mưỡu : Non xanh xanh, nước xanh xanh Sớm tình, tình sớm, trưa tình, tình trưa Ấy ai bến đợi sông chờ Mà người ngày ấy bây giờ là đây Nói : Hồng Hồng Tuyết Tuyết Mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì Nghoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu Ngã lãng du thời quân thượng thiếu Quân kim hứa giá ngã thành ông
Cười cười nói nói sượng sùng Mà bạch phát hồng nhan chừng ái ngại Riêng một thú Thanh sơn đi lại Khéo ngây ngây, dại dại mấy tình Đàn ai, một tiếng dương tranh.
5. Múa hát bỏ bộ Là điệu múa hát dân gian cổ nhất với những động tác đơn giản mô tả cảnh lao động sinh hoạt của con người thời bấy giờ. Người con gái dệt cửi, xe tơ, may vá, bắt ốc, mò cua còn chàng trai cầm súng hoả mai, tập trận… Thể hát múa này cũng được dùng trong các dịp tế lễ ở đình làng .
Nhớ ngày chàng trẩy Lá mai vàng xuân chiếm nở phù dung Biết bao giờ chàng trở lại phòng Nhời chàng dặn chí kỳ hoa nở Tuyết vừa mặt nổi rừng nho Thấy sương bồ liễu, bồ đề tôn dân Chốn dương tân đường đi lúc liểu Ta nếp bồ đề quét nẻo rừng nho Tòa đá lô xô này hỡi cô bay Kìa am vô tích ở chùa xưng danh Này vô thiếu tam, vô tam tịch tự Ta đốt một tờ thấu cửu trùng thiên Xanh thắm đua chen đôi ngàn Nhang bay nghi ngút thương hỡi đốt lên rõ ràng Sáng bâng khuâng đức phật Quan Âm, người giáng hạ Tay sắp bùa niệm chữ Nam mô A Di Đà phật cầu phúc Như Lai.
Em ngồi xe chỉ vá may Xỏ kim, kim xỏ ra hè vá may Mất kim ta lại tìm kim Khêu đèn cho tỏ để ta nhìn mặt nhau . Nhìn thời chớ có nhìn lâu Thoáng qua một chốc giãi sầu nên vui.
6. Mưỡu nói : Hồ Tây Thủ đô Hà Nội có rất nhiều cảnh đẹp đặc biệt là hồ. Nhắc đến Hà Nội chúng ta nghĩ ngay đến Hồ Gươm vốn có tên là Lục Thuỷ. Tương truyền đây là nơi Lê Lợi khi lên ngôi vua đã bơi thuyền ra để trả gươm cho thần Kim Quy (vật báu khi xưa thần đã cho mượn đánh thắng giặc ) Hồ Tây – tương truyền là chốn gặp gỡ, đàm đạo thơ văn lý thú giữa Thánh mẫu Liễu Hạnh ( trong đạo Tứ phủ sử dụng nghệ thuật hát chầu văn để dâng cúng) và Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan . Bài mưỡu nói Hồ Tây – thơ Nguyễn Khuyến diễn tả cảnh thi nhân dạo chơi bằng một chiếc thuyền lan, thong thả lướt trên mặt hồ bên bầu rượu thơm lừng. Trong cảnh sắc như vậy ai mà chẳng mong có người bạn tri âm, tri kỷ bên mình để cùng thưởng thức, du ngoạn.
Mưỡu : Mực in vách phấn đề thơ Hồ Tây sóng nước bây giờ là đây Gió trăng chở một thuyền đầy Của kho vô tận, biết ngày nào vơi Hát nói : Thuyền lan nhè nhẹ Một con thuyền đủng đỉnh dạo Hồ Tây Sóng dập dờn sắc nước lẫn chiều mây Bát ngát nhẽ ghẹo người du lãm Yên thuỷ mang mang vô hạn cảm Ngư long tịch tịch thục đồng tâm
Rượu lưng bầu mong mỏi bạn tri âm Xuân vắng vẻ biết cùng ai ngâm họa Gió hây hẩy không nức mùi nhang xạ Nhác trông lên vách phấn đã đề bài Thơ ai, xin họa một vài
7.Gửi thư Gửi thư là một trong những làn điệu rất tình tứ của ca trù, không ai biết bài hát này có từ bao giờ chỉ biết đã xuất hiện trong các tư liệu từ rất lâu. Gửi thư là một bức thư tình của người con gái gửi một chàng trai. Nàng mong mỏi lời thề nguyền, hẹn ước thủa ấy gặp nhau sẽ không chỉ là giấc mộng .
Thư tình, tình thư một bức Bút hoa thảo tình thư một bức Tâm sự này vằng vặc bóng trăng soi Chữ nhân duyên đưa lại bởi trời Duyên kỳ ngộ thề bồi non với nước
Ta đã rắp đinh ninh từ trước Nỗi niềm này bao quản bước quan san Một châu kiếm với một ngân hà Ấy dấu để phụng loan làm bạn Khách tri âm với người viễn hoạn Chữ chung tình ai dám quên ai Gửi hồng nhắn cá chớ đơn sai Lòng mây nước há như ai chểnh mảng
Tình nhân hỡi đi đâu mà vội Giở lại đây, tôi hỏi một đôi nhời Dẫu canh khuya trống đã điểm hồi Tôi xin kể đôi nhời tường tận.
8. Hát ru cửa đình Người Việt Nam tự hào ông Nguyễn Công Trứ làm quan rất công minh. Ông là vị tướng cầm quân đánh giặc rất giỏi và còn là người có công chiêu mộ dân phiêu tán khai hoang lập nên 2 huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Ông được thờ từ khi còn sống nhưng không chỉ có vậy ông còn là một người chơi đàn đáy rất hay và là nhà thơ tài ba có đóng góp lớn cho Ca trù. Ông đã sáng tác rất nhiều thơ hát nói có giá trị. Ông đam mê ca trù nên ra trận vẫn mang theo vài Ả đào để hát xướng. Trong “ Hát ru cửa đình” ông sáng tạo ra lối hát kết hợp giữa hát lót (thơ thất ngôn 7 chữ ) với thơ lục bát. Phần hát lót 8 câu kể về tích thị Kính lấy chồng tên là Thiện Sĩ. Một hôm chàng đang đọc sách rồi ngủ quên, thị Kính ngồi vá may ngay bên cạnh chợt thấy có sợi râu mọc ngược trên mặt chồng. Nàng bèn sẵn có con dao cắt chỉ trong tay định cắt đi bỗng chàng giật mình thức dậy và ngơ ngác tưởng vợ muốn ám sát chồng. Và rồi không giải oan được, nàng bị đuổi ra khỏi nhà, quá buồn tủi đã cắt tóc đi tu. Đến khi vào chùa nàng lại bị oan thêm lần nữa. Nguyên nhân do nàng Thị Màu ngỡ tưởng nàng là đấng nam nhi, sau nhiều lần tìm cách tỏ tình không được. Xuân tình trỗi dậy Thị Màu đã tìm cách trao thân cho chàng trai đang đi ở cho nhà mình. Thế rồi Thị Màu không chồng mà chửa, bị làng bắt vạ phải đổ riệt cho tiểu Kính Tâm. Kính Tâm đành ôm đứa con còn đỏ hỏn, nuôi nấng chăm bẵm một thời gian cho con khôn lớn rồi trẫm mình xuống sông. Tiểu Kính chết có để lại lá thư trần tình và nỗi oan xưa mới được giải .
Tiểu Kính Tâm lấy chồng Thiện Sĩ Tỉa râu chồng mang tiếng bội phu Giở về nhà thế phát đi tu Phận là gái oan tình phải trái
Sách có chữ tâm bất quản ngại Oan thời oan, nàng chẳng nói làm sao Miệng ru con, tay gõ mõ đào Ngồi tụng niệm rù rì tiếng đọc Như tay chuông tay mõ rù rì Khi thì tụng niệm khi thì ru con Ta ru hời, ru hỡi, ru hỡi hời là ru.
Đoạn ru con nối tiếp ca ngợi tình yêu chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng. Thể cách này dễ nghe và dễ hiểu vì gần gũi với dân gian hơn.
Đố ai quét sạch lá rừng Để tôi khuyên gió, gió đừng rung cây
Tay bưng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
|