|
Hát ả đào Cũng như khái niệm ca trù, hát ả đào là tên gọi chung của rất nhiều điệu hát có thể thay thế các khái niệm như ca trù, hát cô đầu, hát nhà trò,..
Đó là những tên gọi khác nhau có thể xuất phát từ những lý do lịch sử khác nhau. Theo các thư tịch hiện biết thì khái niệm hát ả đào sớm nhất so với các khái niệm ca trù, nhà trò, cô đầu,...Các sách Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ, Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề tuy nói khác nhau về thời gian xuất hiện khái niệm hát ả đào mấy thế kỷ (nhà Lý và nhà Hồ) nhưng đều nói đến một lý do giống nhau là có một ca nhi họ Đào được ái mộ nên về sau những người ca hát được gọi là ả đào. Thông tin về sự xuất hiện khái niệm được biết như thế nhưng các điệu hát thời đó như thế nào thì vẫn chưa có tư liệu nào cung cấp cho chúng ta, kể cả sự hiện diện dưới hình thức dấu hiệu ở một vài tư liệu hiện có. Thành tựu nghiên cứu cho đến nay vẫn chưa có cách giải thích khác về khái niệm ả đào.

Hát cửa đình Hát cửa đình là cuộc hát được tổ chức tại đình làng hàng năm. Thời điểm tổ chức là vào ngày mửoi hội tế thần, tế thành hoàng làng. Luật lệ hát rất chặt chẽ, nghiêm khắc, nghi lễ hát linh thiêng trọng thể. Khi hát ả đào phải nhịp theo các tiết mục hành lễ và các động tác của người tế. Ả đào phải hát đúng cửu khúc như Nguyên hòa khúc, Thái hòa khúc,...Các bài hát cửa đình gồm giáo trống, giáo hương, dâng hương, thét nhạc, hát giai,...đặc điểm của hát cửa đình là uy nghi, nghiêm kính, thiêng liêng.
Hát cửa quyền Hát cửa quyền xưa nay được hiểu là hát ở trong cung vua, nghĩa là nơi hát, điạ điểm hát góp phần tạo nên tên gọi lối hát. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút (mục Bàn về âm nhạc) mô tả sự khác nhau giữa hát ở cửa quyền và hát ngoài giáo phường: "Hát ở trong cung, tục gọi là hát cửa quyền, giọng hát uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ở ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác mấy". Hát cửa quyền, theo nhiều sách thì, ngày xưa có quan chuyên trách, có các quy định, phép tắc, sau đó bỏ dần và pha lẫn với hát ngoài giáo phường. Hát nhà tơ Hát nhà tơ là tên gọi khác của hát ca trù, hát ả đào,...So với các khái niệm khác, trong các tư liệu hiện đang lưu hành thì khái niệm hát nhà tơ vào loại ít được dùng đến. Nghĩa là tính phổ biến của nó không rộng. Chúng ta cũng chưa có tư liệu để xác định thời điểm ra đời của khái niệm này. Các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo nói rằng ngày xưa các quan khi yến tiệc trong dinh, trong ty thì mời ả đào về hát. Ty theo ông nghĩa là tơ và hát nhà tơ là hát trong ty (VNCTBK, Nxb, T.p HCM. 1994, tr.44). Khác với nhiều khái niệm khác, ở khái niệm này các tác giả chỉ giải thích mà không dẫn sách.
Hát nhà trò
Hát nhà trò thường được gọi để thay thế các tên gọi khác như ca trù, ả đào, nhà tơ,...Lý do lịch sử của sự xuất hiện của khái niệm này, cũng như thời điểm ra đời của nó, hiện nay chưa được nghiên cứu rõ. Thời điểm hình thành khái niệm và sử dụng nó một cách phổ biến có thể muộn hơn các khái niệm ca trù, hát cửa đình, nhưng phải trước thế kỷ XIX. Vào cuối thế kỷ XIX Trương Vĩnh Ký có một bài viết là Hát nhà trò. Làng Cổ Đạm thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có truyền thuyết là tổ quê ca trù, hiện còn nền đất của một ngôi nhà xưa kia được dùng để hát nhà trò, nhân dân ở đây thường gọi là Nền Nhà Trò. Tại Nghệ An có một quả núi mang tên Rú Nhà Trò. Như vậy nhà trò đã là tên gọi khá phổ biến một thời ở xứ Nghệ. Khái niệm nhà trò, trong các tài liệu thành văn, được dùng ít hơn các khái niệm ca trù, hát ả đào,…Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề giải thích: “Khi ả đào hát ở cửa đền có bổ bộ, miệng hát tay múa uốn éo lên xuống làm bộ người điên, người say rượu, người đi săn,…Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là hát nhà trò” (VNCTBK, Nxb. T.p HCM 1994, trang 44). Cách giải thích đó có thể chỉ mới là cách giải thích truyền khẩu được ghi lại.
Theo : Ca trù nhìn từ nhiều phía - Tác giả: Nguyễn Đức Mậu
|