|
Nếu thử làm một phép tính đơn giản thì từ đầu thế kỷ 20 đến nay nghề hát Ca trù hay còn gọi là hát ả đào ở Hà Nội đã trải qua được khoảng năm thế hệ (ở đây chúng tôi tính cả những người từ các vùng quê lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề hát xướng này ngụ tại các giáo phường Khâm Thiên, Vạn Thái, Vĩnh Hồ, ấp Thái Hà…vv.). Ðơn cử thế hệ thứ nhất thì có cụ Như Tuyết, cụ Phó Thị Yến bên ấp Thái Hà; thế hệ thứ hai có cụ Quách Thị Hồ ở giáo phường Vạn Thái (phố Bạch Mai ngày nay), cụ Nguyễn Thị Phúc giáo phường Khâm Thiên; thế hệ thứ ba có cụ Phó thị Kim Ðức, cụ Nguyễn Thị Chúc người giáo phường Khâm Thiên, cụ Phạm Thị Mùi bên giáo phường Lỗ Khê; thế hệ thứ tư được biết đến với các nghệ sĩ Bạch Vân, Kim Dung, Trang Nhung, Thuý Hoà…vv.

Và thế hệ thứ năm gồm khoảng gần 80 học viên của lớp Ca trù 2 tháng do Cục nghệ thuật biểu diễn đứng ra tổ chức dưới nguồn vốn tài trợ từ quỹ Ford khai giảng vào tháng 10/2002 tại Hà Nội. Bấy nhiêu thế hệ có người còn, người mất, người cao tuổi, kẻ còn đang thiếu niên, tất cả bấy nhiêu con người đã và đang tìm cách giới thiệu và bảo tồn Ca trù, một bộ môn nghệ thuật vô cùng độc đáo của dân tộc Việt. Thế nhưng cho đến ngày nay, người ta vẫn còn băn khoăn, thắc mắc, thậm chí là ngờ vực xung quanh một điều rằng: liệu thực chất Ca trù Hà Nội còn hay mất?
Với những gì mà chúng tôi liệt kê trên thì rõ ràng chúng ta thấy, mạch nguồn của bộ môn nghệ thuật bác học trên vẫn còn chảy đến tận ngày nay. Vậy, câu hỏi vừa được nêu lên kia chắc là thừa? Vâng có lẽ sẽ là đúng như vậy nếu như trong thế kỷ vừa qua có đến gần 30 năm, tức là từ năm 1954, người ta đã coi Ca trù như là một tàn dư của chế độ cũ, đại diện cho một lối sống ăn chơi, truỵ lạc, trác táng, thậm ch
í có người lại coi người đào nương như một loại gái làm tiền, anh kép đàn như một người môi giới, hoặc gán cho họ những lời lẽ thật tàn nhẫn và bẩn thỉu. Ðể đến nỗi sau một thời gian ngắn ngủi vô cùng, cả một cơ dinh nghề hát đồ sộ, đại diện cho một thú chơi tao nhã vào bậc nhất của văn nhân Việt Nam lúc bấy giờ bỗng chốc tan biến đi, hầu như không để lại dấu tích. Ðể đến nỗi cho đến ngày hôm nay, người ta phải loanh quanh. ôm đầu với những câu hỏi, liệu đâu là Ca trù thật, đâu la Ca trù giả, và Ca trù còn hay mất?
Trong một lần gần đây tiếp chuyện với nhà thơ Ngô Linh Ngọc, ông có tâm sự với chúng tôi là ngay cả đến bây giờ ông vẫn chưa hết bàng hoàng về sự ra đi quá nhanh chóng của Ca trù, một thú chơi đã gắn bó trong ông từ khi còn đôi tám tuổi, lúc bấy giờ đương còn là một cậu Tú. Ông vẫn còn nhớ như in là vào năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ đã có những ngày cả một toa tàu chở hơn 300 cô đầu lên mạn Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc để tản cư, ấy thế mà đùng một cái sau khoảng năm năm tư, sáu mươi, tất cả như chìm hết tăm, không còn để lại một dấu tích nào, có lẽ vì sợ mang tiếng xấu vì mọi người đã gán cho nghề nghiệp của họ. Ngay cả ông cũng phải giấu đi tài nghệ cầm chầu của mình. Mãi cho đến những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà có một nghị quyết trung ương kêu gọi về việc phát triển văn hoá nghệ thuật dân tộc, ông Ngọc lại hăm hở tìm lại những người đào hát xưa nay mái đầu đã bạc trắng. ông đã làm ba bộ phim về Ca trù vào đầu những năm 80, bất chấp cả việc cho người khác ghi tên làm đạo diễn, để đổi lại việc cho Ca trù trở lại. Cùng với gần 20 buổi diễn thuyết của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát trước đó, thế giới đã phải công nhận Ca trù Việt Nam là một bộ môn ca nhạc thính phòng vô cùng độc đáo mà người được đại diện nhận vinh dự đó là nghệ nhân Quách Thị Hồ.
|